THỰC HƯ CHUYỆN GIÁP LONG ĐUÔI CHÙY (HỌ ANKYLOSAURIDAE) CHỈ DÙNG ĐUÔI CHÙY ĐỂ THU HÚT BẠN TÌNH

Gần đây có khá nhiều bạn bình luận trong bài đăng của Dinoman rằng đuôi chùy/búa của giáp long đuôi chùy (Họ Ankylosauridae) không phải là vũ khí phòng thủ mà chỉ để đập vào thân cây gây tiếng động nhằm thu hút bạn tình. Sau khi tìm kiếm một hồi thì Dinoman dường như đã tìm ra nguồn của thông tin này, đó là một clip được đăng tải trên kênh TikTok có tên là K.P.T.G. Kênh này có tham khảo từ nguồn nào khác để đưa ra thông tin này hay không thì không biết (vì chủ kênh không nói hoặc trích nguồn tham khảo rõ ràng).

Tranh minh họa cảnh một con Euoplocephalus dùng đuôi chùy vô hiệu hóa kẻ săn mồi. Tranh của Dorling Kindersley.

Lập luận trong clip của kênh K.P.T.G về cơ bản là như sau: các nhà khoa học từng thực hiện nhiều nghiên cứu về đuôi của Ankylosaurus (thật ra nếu nói cho chính xác thì phải là của nhóm giáp long đuôi chùy tức Họ Ankylosauridae, vì hiện tại chi Ankylosaurus chỉ có rất ít mẫu vật, không đủ để thực hiện một nghiên cứu toàn diện về công dụng của đuôi chùy) và nhận thấy đuôi của những con khủng long tuy từng được nói là dùng để phòng thủ trước kẻ săn mồi nhưng lại không hề có dấu vết hư hại do giao chiến, ngoài ra các nghiên cứu mô phỏng cho thấy chùy của chúng cũng rất dễ vỡ, chỉ cần đập một lần là vỡ nát, về sau không thể dùng được nữa. Chùy của con cái cũng nhỏ hơn so với con đực, thế nên từ đó các nhà khoa học suy ra chùy của giáp long có công dụng chính là để thu hút bạn tình bằng cách đập vào thân cây gây tiếng động, tiếng càng to thì càng được chú ý.

Dinoman đã thử lục lại trí nhớ của mình về các nghiên cứu cũng như kiến thức liên quan đến công dụng của đuôi chùy ở giáp long đuôi chùy và thật sự không hề nhớ ra có nghiên cứu nào nói như vậy. Nghiên cứu lớn gần nhất mà Dinoman đọc được về chủ đề này là vào năm 2022, khi chuyên gia về giáp long Victoria Arbour cùng nhóm của mình đã nghiên cứu mẫu định danh của loài giáp long Zuul crurivastator, nhận thấy trên bộ giáp của con Zuul này có những gai bị vỡ do vật nặng đập vào. Với tính chất của vết thương như vậy, họ nhận định rất có thể tác giả gây ra những vết thương này là một con Zuul khác với cái chùy đuôi của nó. Khám phá này cho thấy, ít nhất đuôi chùy của các loài giáp long có thể đã được dùng trong giao chiến nội loài (intraspecific comabat). Nguyên nhân thì có thể là do tranh giành quyền giao phối hoặc lãnh thổ. Như vậy, chúng thật sự đã dùng đuôi để đập nhau chứ không chỉ để chưng cho vui, ít nhất là trong loài. Còn với kẻ săn mồi, giả sử bạn đã sở hữu một vũ khí có khả năng đập vỡ giáp của tình địch thì liệu bạn có ngại dùng nó với kẻ đang định săn mình không? Mặc dù vậy, vẫn phải thừa nhận là việc Ankylosaurus dùng đuôi phòng thủ trước kẻ săn mồi vẫn thiếu bằng chứng cụ thể trong dữ liệu hóa thạch, nhưng đó có thể đơn giản là do "chưa tìm thấy".

Tiếp đó, về chuyện dị hình giới tính, con cái có chùy đuôi nhỏ hơn so với con đực thì đúng là từng có giả thuyết này. Con đực, do nhu cầu giao chiến nội loài và khoe mẽ có thể sở hữu chùy đuôi to hơn của con cái, và sự khác biệt này khi cá thể càng trưởng thành thì càng rõ rệt. Tuy nhiên, để có thể chắc chắn thì vẫn cần có một số lượng hóa thạch nhiều hơn của cả hai giới lẫn nhiều độ tuổi khác nhau để nghiên cứu.

Còn về chuyện đuôi chùy của giáp long đuôi chùy không có dấu hiệu tổn hại do chiến đấu thì đây cũng không phải cơ sở xác đáng để khẳng định rằng đuôi của chúng không phải để chiến đấu. Thứ nhất, hóa thạch chùy đuôi mà chúng ta thấy thực chất chỉ là phần lõi xương (bony core) của toàn bộ cấu trúc. Theo các nhà khoa học, ngoài phần lõi xương này còn có một lớp keratin (keratinous sheath) bao bọc, giúp bảo vệ phần lõi xương bên trong. Hư hại khi giao chiến, nếu có, thường sẽ diễn ra ở lớp keratin này. Keratin thường không hóa thạch và những hư hại có thể biến mất. Thứ hai, trên thực tế các nhà cổ sinh vật học từng mô tả rằng hình dạng bất đối xứng ở đuôi của một số giáp long đuôi chùy có thể chính là dấu hiệu của việc một bên được dùng nhiều hơn cho việc đập nhau. Đó là nghiên cứu mô tả loài giáp long đuôi chùy mới Tarchia tumanovae của các nhà cổ sinh vật học quốc tế vào năm 2021. Thế nên, nói rằng đuôi của các giáp long không hề có dấu vết gì của việc giao chiến không hề chính xác.

Cuối cùng, về lập luận cho rằng đuôi của giáp long đuôi chùy dễ bị vỡ nát chỉ ngay sau một lần đập thì thật sự không rõ nguồn của phát biểu này ở đâu và có uy tín hay không. Nhưng theo nghiên cứu năm 2009 của Victoria Arbour với tiêu đề "Estimating Impact Forces of Tail Club Strikes by Ankylosaurid Dinosaurs", các tác giả nhấn mạnh các giáp long đuôi chùy sở hữu nhiều đặc điểm giúp đuôi chịu được lực va đập mạnh như cấu trúc đuôi được gia cố, được tạo thành từ các đốt sống đan xen chặt chẽ và các gân hóa xương; phần chùy lại có cấu trúc xốp, nhưng không hề dễ vỡ mà giúp giảm mô-men quán tính quay, làm cho đuôi nhẹ hơn và dễ dàng vung như một món vũ khí hiệu quả. Tuy nhiên, để có hiệu quả cao nhất với lực đánh làm gãy xương kẻ săn mồi, các cá thể giáp long đuôi chùy phải đạt đến độ tuổi trưởng thành. Việc tự vệ bằng đuôi ở các cá thể còn non sẽ không tốt bằng.

Vậy đuôi của giáp long đuôi chùy có vai trò gì trong chọn lọc giao phối không? Có lẽ là có, nhưng không phải giống như cách mà clip của kênh K.P.T.G mô tả. Một cá thể có chùy đuôi to và mạnh là dấu hiệu cho thấy sức mạnh và khả năng bảo vệ tốt, nhờ đó sẽ có lợi thế hơn trong chọn lọc giao phối. Phần nhìn đã đủ trong chuyện này, không cần thêm phần nghe bằng cách đập vào thân cây đâu!

THAM KHẢO:

  1. Victoria M. Arbour, Lindsay E. Zanno, David C. Evans, "Palaeopathological evidence for intraspecific combat in ankylosaurid dinosaurs", Biology Letters, Volume 18, Issue 12, 1 December 2022.
  2. Jin-Young Park, Yuong-Nam Lee, Yoshitsugu Kobayashi, Louis L. Jacobs, Rinchen Barsbold, Hang-Jae Lee, Namsoo Kim, Kyo-Young Song, Michael J. Polcyn, "A new ankylosaurid from the Upper Cretaceous Nemegt Formation of Mongolia and implications for paleoecology of armoured dinosaurs", Scientific Reports, 25 November 2021.
  3. Victoria M. Arbour, "Estimating Impact Forces of Tail Club Strikes by Ankylosaurid Dinosaurs", PLOS One, 25 August 2009.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét