[Mê Khủng Long] Astigmasaura là một chi khủng long chân thằn lằn thuộc họ Rebbachisauridae có niên đại Phấn Trắng muộn, với hóa thạch được khai quật từ Thành hệ Huincul, Argentina. Chi này hiện chỉ có một loài duy nhất, A. genuflexa.
Mẫu định danh của Astigmasaura, ký số MAU-Pv-EO-629, được các nhà cổ sinh vật học khám phá vào năm 2017 trong các lớp đá của tầng dưới Thành hệ Huincul, tại một địa điểm gần mỏ dầu YPF, phía Đông Bắc tỉnh Neuquén. Mẫu vật này tuy không hoàn chỉnh nhưng các thành phần vẫn dính liền nhau, bao gồm 20 đốt sống đuôi; 19 vòm mạch máu; phần lớn đai chậu; cả hai bên xương đùi, xương chày, xương mác và xương sên; toàn bộ năm xương bàn chân từ hai chân, 4 đốt ngón gần của chân phải và 5 của chân trái, 2 xương móng chân của bàn chân bên trái.
![]() |
| Phục dựng ngoại hình Astigmasaura genuflexa và môi trường sống của chúng. Tranh của Mattia Yuri Messina. |
Mẫu vật này đã được nhà cổ sinh vật học Flavio Bellardini và cộng sự mô tả sơ bộ vào năm 2024, khi đó họ cho rằng nó thuộc về một chi chưa xác định trong họ Rebbachisauridae. Quá trình xử lý hóa thạch vẫn tiếp tục cho đến tận năm nay mới hoàn thành, và trong nghiên cứu chính thức, nhóm đã thành lập danh pháp mới Astigmasaura genuflexa cho mẫu vật này.
Tên chi Astigmasaura kết hợp giữa từ Latin "astigma" với "saura" (giống cái của "saurus"), trong đó "astigma" có nghĩa là "không có dấu hiệu", nhằm đề cập đến El Orejano, địa danh nơi phát hiện hóa thạch. "Orejano" là một từ trong tiếng Tây Ban Nha, dùng để chỉ những gia súc vô chủ, không có dấu hiệu ở tai (bởi chủ gia súc thường đánh dấu con vật của mình bằng những dấu hiệu ở tai). Tên loài genuflexa có nghĩa là "quỳ gối" trong tiếng Latin, đề cập đến tư thế gập chân về phía sau của mẫu định danh khi được tìm thấy.
Theo phân tích phát sinh loài, Astigmasaura là một chi phát sinh sớm của họ Rebbachisauridae, và có quan hệ gần gũi nhất với các chi Rebbachisauridae sớm khác như Itapeuasaurus (Brazil) hay Sidersaura (Argentina).
Rebbachisauridae là một trong những họ khủng long chân thằn lằn khá thành công, tiến hóa và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn khoảng 150-90 triệu năm trước (tương đương từ Jura muộn đến Phấn Trắng muộn). Chúng được xếp vào Liên họ Lương long (Diplodocoidea), nhưng có thân hình nhỏ hơn và kiểu răng đặc trưng, có góc nghiêng thấp, mặt mòn bên trong, và men răng không đối xứng.
So với các sauropod khác, ít nhất một số loài trong họ Rebbachisauridae chẳng hạn như Nigersaurus có "răng dàn" (tooth battery) - cấu trúc tập trung nhiều răng thay thế liên tục - giống như ở các loài khủng long mỏ vịt và khủng long mặt sừng. Đây có thể là một đặc điểm tiến hóa hội tụ giữa họ Rebbachisauridae và khủng long mỏ vịt, khủng long mặt sừng; đồng thời cũng cho thấy có thể chúng đã chiếm ngách sinh thái khá tương tự với hai nhóm này.
Họ Rebbachisauridae là những đại diện cuối cùng được biết đến của Liên họ Lương long, và đã cùng tồn tại với loài khủng long hộ pháp (Titanosauria) cho đến tận giai đoạn muộn của kỷ Phấn trắng.

0 Nhận xét